12 February 2014

"Tôi phò Hán không phải bội phản Ðại vương mà theo nguyện vọng của tôi"

Năm nay một điều bất ngờ là liên lạc được vài bạn cũ qua Facebook. Lâu lắm rồi Tr cũng không đăng gì lên Facebook nữa, thnh thoảng lên coi mọi người ra sao thôi. Trước đây cũng có đưa lên tin này tin kia, đụng chạm những kẻ có máu mặt nên một số người phản ứng quá. 

Số là như vy, bạn bè lâu ngày không gặp, đâu có biết chí hướng thế nào nên có người nói là Tr thay đổi nhiều quá làm mất hình tượng. Thôi thì để không làm đau lòng nhau thì từ nay mình muốn phát ngôn gì thì cứ qua bên này nói vậy, không cần ai Comment, không cần ai Like. Ai thích thì đọc, không thì bỏ qua, chẳng phiền hà chi. 

Nhưng tại sao có việc bạn bè nhận xét như vậy về Tr? À là như vậy, ngày xưa, vào cái thời “khi xưa ta bé” (ta ng… - xin phép bỏ một chữ ai cũng biết để khỏi đụng chạm những người xưa cùng mình chung hội chung thuyền nhé) Tr từng tham gia hoạt động này nọ, từng có tội với lớp trẻ vì truyền bá văn hóa phẩm “đúng luồng mà có hại”. Nói thật là nói gì nói Tr không hề tin vào những điều đó, thế nhưng tên mình bị kẹt vào đó rồi, muốn xóa cũng không dễ dàng. 

Thôi thì ai nói gì nói, ai nghĩ Tr thế nào thì nghĩ, không tiện giải thích, nhưng làm ơn đọc tiếp phần dưới nhé, coi như lời trần tình của người viết vậy:

Trong Hán Sở tranh hùng Tr thích đoạn này nhất. 

Chợt thấy trong đám Hán tướng có Ðại tướng Lã Mã Thông vừa đến, Hạng vương gọi lớn :
- Nhà ngươi có phải là cố nhân của ta chăng ?


Lã Mã Thông đáp :
- Phải, tôi cùng Ðại vương khởi binh ở Cối Kê, nay vắng cách đã lâu ; lẽ ra tôi phò Ðại vương, nhưng vì Ðại vương lấy uy lực áp đảo sanh linh, lấy bạo lực trị thiên hạ, chánh sách đó không thuận lòng trời, hợp lòng người. Hán vương tuy không có uy vũ, song đạo đức tràn đầy, ai ai cũng mến. Trời dành thiên hạ cho kẻ có đức chứ không phải cho kẻ có uy vũ, do đó Ðại vương thất bại là phải. Tôi phò Hán không phải bội phản Ðại vương mà theo nguyện vọng của tôi.

(Trích Hán Sở tranh hùng, hồi thứ 40)

10 October 2013

Vô đề



Mình có tật hay liên tưởng. Cách đây không lâu vụ nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 tuyên bố từ giã sân khấu làm mình nhớ tới chuyện sự tích chú Cuội cung trăng. Truyện xưa nói là cây đa thần rời đất bay về trời vì bị thím Cuội làm cho ô uế. Bây giờ cây đa cây đề Nguyễn Ánh 9 của nền âm nhạc Việt Nam cũng rời cái chốn ô trọc vì bị thím Hưng ...

Còn sự kiện mới nhất thì làm mình nhớ câu “Chiến tướng công thành vạn cốt khô”.

31 May 2011

Hịch tướng sĩ tân biên

Ta thường nghe: Trưng vương cỡi voi đuổi Tô Định; Triệu nữ tướng xuất quân đánh tan Lục Dận; Ngô Quyền đóng cọc Bạch Đằng đốt quân Nam Hán; Lý Thường Kiệt, Tôn Đản ra quân trước, hạ U châu; nhà Trần ba lần phá quân Nguyên; Lê Thái tổ mười năm nếm mật nằm gai đuổi được Hoàng Phúc; Quang Trung hành binh thần tốc, Tôn Sĩ Nghị chạy dài. Từ xưa, những bậc anh hùng nghĩa sĩ dấy quân giữ nước, đời nào là không có đâu? Nếu họ cứ chăm chút học thói nhút nhác, chẳng qua cũng đến chết rũ dưới cửa sổ, đâu được ghi tên vào sử xanh, đền miếu thờ phụng đến giờ?

Các người bị cơm áo gạo tiền phân trí, không rành sử sách, nghe những chuyện ấy, thảy đều nửa tin nửa ngờ. Thôi thì những việc cổ xưa, hãy để đó không nói đến nữa. Nay ta hãy đem chuyện gần kể cho các người cùng nghe: Phan Đình Phùng là người gì? Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Trung Trực là người gì, vũ khí thô sơ, không thành quách mà đám khởi binh chống quân Pháp hùng mạnh, khiến cho con dân nước Việt, đến nay hãy còn nhớ ơn. Trương Định là người gì? Thiên Hộ Dương là người gì mà dám rèn quân trong lam chướng, tìm cơ hội diệt giặc giúp dân, khiến cho tiếng thơm để lại muôn đời.

Huống chi ta cùng các ngươi, sinh ở buổi rối ren, lớn lên nhằm khi khó nhọc, xem báo thấy “tàu lạ” công khai hoành hành lãnh hải, vung súng cướp bóp dân chài; hàng hóa trong nước bị hàng “made-in-China” phá giá; bọn doanh nhân gắn mác “đầu tư” trốn trong khu chế xuất đàn áp công nhân, hạ nhục con người; đàn bà con gái bị “mua” ra nước ngoài như nô lệ; mượn tiếng xây nhà máy sản xuất để hạ độc môi trường; lấy danh nghĩa lập nhà máy tinh luyện nhôm để đem quân vào Tây Nguyên trú đóng; từng tấc đất biên thùy bị cắt xén, từng khoảnh biển bị xâm lăng. Dương phương châm mười sáu chữ vàng “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” mà thực chất là chủ nghĩa bành trướng, vốn đã ngàn năm. Chìu theo ý chúng giống như đem thịt mà liệng cho cọp đói, sao cho khỏi lo về sau?

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm. Các người sống trong nước bấy lâu nay, thiếu thốn được dân nuôi, vui buồn đều cùng hưởng. Cách đối đãi so với người xưa nào có khác chi?

Thế nhưng các người thấy thế nước lâm nguy mà không lấy làm lo; giặc phương Bắc muốn chiếm cả biển Đông mà không lấy làm sợ; thấy báo chí hèn hạ dùng từ “tàu lạ” để chỉ chiến thuyền chiến địch mà không thấy nhục; thấy thế giới dửng dưng trước sự khiêu khích của giặc mà không thấy giận; kẻ thì lo chơi game online cho qua ngày tháng; kẻ thì lên kênh 14 để coi ca sĩ diện đồ; trí thức lo chạy chức, tranh quyền; kỹ sư bận ăn chặn ăn bớt; nông dân đói kém nhưng xã vẫn khoe được mùa; đạo đức suy đồi nhưng học sinh không có em nào dưới “khá”; có người chỉ chăm vườn ruộng, cốt nuôi được nhà; có người chỉ mến vợ con, lấy mình làm trọng; cũng có kẻ chỉ lo làm giàu làm có, việc quân quốc chẳng thèm đoái hoài, cũng có người chỉ ham về săn bắn mà quên việc binh, hoặc là đam mùi rượu ngọt, hoặc là mê tiếng hát hay. Danh hiệu hão huyền mà lấy làm vinh dự, tự hào chi “lạc quan nhất thế giới” mà không biết tổ quốc nguy như trứng chồng?

Một khi giặc chiếm hết những quần đảo viễn đông, lập xong trại ở Tây Nguyên, đem quân tràn vào Lạng Sơn thì bảo đao trong game không thể đâm thủng thiết giáp của giặc; chuyện phiếm ở bàn nhậu không thể đem làm mưu mẹo nhà binh; vườn ruộng tuy giàu, tấm thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vợ con tuy sẵn, trong đám ba quân khó dùng, của cải tuy nhiều, không thể mua được đầu giặc; chó kiểng tuy nhiều, không thể đuổi được quân thù, Heineiken ngon không đủ để cho giặc phải mê; hát hay không đủ làm cho giặc phải điếc; ca sĩ mặc thiếu vải không đủ làm cho giặc quên đánh.

Lúc đó chúng ta sẽ cùng bị trói, đau đớn biết chừng nào! Nếu thế, chẳng những là biệt thự, công ty của ta không còn, mà bổng lộc của các ngươi cũng bị kẻ khác chiếm mất; chẳng những là gia quyến của ta phải đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc của tổ tông ta sẽ bị dày xéo, mà đến mồ mả của cha mẹ ngươi cũng sẽ bị kẻ khác đào lên, chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, và trăm kiếp khác tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu vẫn còn, mà gia thanh của các ngươi cũng chẵng khỏi mang tiếng hèn mạt. Đã đến khi đó các ngươi muốn chơi bời cho thỏa, phỏng có được chăng?

Nay ta bảo cho các người rõ: nếu cứ nhân nhượng hèn nhát thì mảnh đất Năm Căn ở cực nam tổ quốc cũng sẽ vào tay giặc. Các ngươi đừng tự bịt mắt bưng tay mà tưởng là đang sống trong thiên đường. Hãy quên đi những trò vô bổ mà lo học lấy nghề; dẹp sách báo lá cải mà lo góp gom kiến thức; quan thương dân như con; con hiếu thuận với mẹ cha; trong nhà nhường nhịn lẫn nhau; ngoài đường thì ý thức mọi việc; tôn trọng người khác, tự thương thân mình; ủng hộ chính quyền bài trừ buôn lậu; mua hàng trong nước giữ việc làm cho con em mình sau này; coi trọng tài sản chung, chống tham quan ô lại; khiến cho trong nước dân tín nhiệm quan, trò kính nể thầy. Với nhân lực như thế thì phương Tây sẽ lấy Việt Nam làm nơi đầu tư, sẽ ủng hộ một Việt Nam an bình và chống lại sự bành trướng bá quyền của phương Bắc. Như thế chẳng những là biệt thự của ta mãi mãi là của gia truyền, mà bổng lộc các ngươi cũng được suốt đời hưởng thụ; chẳng những gia quyến của ta được yên giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng được sum họp đến già; chẳng những là tông miếu ta sẽ được muôn đời tế lễ, mà tổ tông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những thân ta kiếp này đắc chí, mà đến các người dưới trăm đời nữa tiếng thơm vẫn lưu truyền; chẳng những tên tuổi ta không bị mai một, mà đến tên họ các người cũng để tiêng thơm trong sử xanh. Khi ấy các ngươi không muốn vui chơi, có được chăng?

Nay ta có mấy lời tâm huyết, nếu các người nghe theo thì phúc cho nước nhà, trái lời thì mai sau chịu nhục. Sao vậy? Bởi vì việc khẩn như vậy mà các người không nghĩ tới, điềm nhiên không lo đến sự rửa thẹn; đến việc trừ hung, không nhớ đến chuyện tu thân. Thế là giở giáo hàng giặc, nắm tay chống giặc. Rồi đây, sau khi dẹp yên quân giặc, các ngươi sẽ phải thẹn muôn đời, còn mặt mũi nào đứng giữa khoảng trời đất che chở? Ta muốn các ngươi biết rõ bụng ta, nhân viết mấy lời đó làm hịch.

===========================================
Xin Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn tha lỗi "đạo văn"
Triết

Hịch tướng sĩ - Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn

Coi tin tức nóng máu mà không biết phải làm gì bây giờ. Thôi mượn bài này tạm vậy:


Ta thường nghe: Kỷ Tín lấy thân chết thay, cứu thoát được vua Cao-đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo che chở được vua Chiêu-vương; Dự Nhượng nuốt than để trả thù cho thầy; Thân Khoái chặt tay để gánh nạn cho nước; Uất Trì Cung một viên tướng nhỏ, còn biết che đỡ Đường-chủ, ra khỏi vòng vây của Thế Sung; Nhan Cảo-Khanh là bầy tôi xa, còn biết mắng chửi Lộc Sơn, không nghe lời dụ của nghịch-tặc. Từ xưa, những bậc trung-thần nghĩa-sĩ, lấy thân theo nước, đời nào là không có đâu? Nếu mấy người kia, chăm chăm học thói dút-dát của con gái trẻ con, chẳng qua cũng đến chết dũ ở dưới cửa sổ, đâu được ghi tên vào trong thẻ tre lụa trắng, danh tiếng cùng trời đất cùng lâu bền?
Các người đời đời là con nhà võ, không biết chữ nghĩa, nghe những chuyện ấy, thảy đều nửa tin nửa ngờ. Thôi thì những việc cổ xưa, hãy để đó không nói đến nữa. Nay ta hãy đem chuyện nước Tống, giống Thát(là chuyện gần đây) kể cho các người cùng nghe: Vương công Kiên là người gì? Nguyễn văn Lập tỳ-tướng của y lại là người gì, chỉ có vòng thành Điếu-ngư nhỏ bằng cái đấu hai người ấy chống nổi toán quân trăm vạn của Mông-kha, khiến cho con dân nước Tống, đến nay hãy còn nhớ ơn. Đường ngột Ngại là người gì? Xích tu Tư tỳ-tướng của y lại là người gì? xông pha lam-chướng trên đuờng muôn dặm, hai người ấy đánh được quân Nam-chiếu trong vài tuần, khiến cho vua chúa giòng Thát nay còn để tiếng!
Huống chi ta với các ngươi, sinh ở buổi rối ren, lớn lên nhằm khi khó nhọc, chính mắt ngó thấy sứ ngụy đi lại, đường xá nghẽn-ngang, chúng múa cái lưỡi cú quạ làm nhục chốn triều-đình, chúng giơ cái thân chó dê, kiêu ngạo với quan tể-phụ; chúng nhờ mệnh lệnh của chúa Mông-Cổ, mà đòi nào ngọc nào lụa, sự vòi vĩnh thật vô cùng; chúng mượn danh hiệu của vua Vân-nam mà hạch nào bạc nào vàng; của kho đụn đã hồ hết Cung-đốn cho chúng giống như đem thịt mà liệng cho cọp đói, sao cho khỏi lo về sau?
Ta thường thì tới bữa quên ăn, giữa đêm vỗ gối, nước mắt tràn xuống đầy mép, tấm lòng đau như bị đâm, vẫn lấy cái sự chưa thể ăn thịt nằm da, nuốt gan uống máu của chúng làm tức. Dẫu cho một trăm cái thân của ta phải đem đốt ở đồng cỏ, một nghìn cái thân của ta phải đem bọc vào da ngựa, ta cũng vui lòng. Các ngươi lâu nay ở dưới cửa ta cầm giữ binh-quyền, thiếu áo thì mặc áo cho, thiếu ăn thì sẻ cơm đỡ, quan nhỏ thì cho lên chức, bổng ít cho thêm lương, đi thủy cấp thuyền, đi bộ cấp ngựa, những khi trận mạc, sự sống thác thầy chung với trò, những lúc mừng khao, tiếng vui cười ai cũng như nấy. So với Công Kiên làm chức thiên-lý, Ngột Ngại ở ngôi phó nhị, có khác gì đâu.
Thế mà các ngươi thấy chủ bị nhục chẳng lấy làm lo, gặp nước bị dơ chẳng lấy làm thẹn, làm tướng nhà nước phải hầu mấy đứa chum mường, mà không có lòng căm hờn, nghe khúc nhạc thờ đem thết một tên ngụy sứ, mà không có vẻ tức giận; kẻ thì chọi gà cho thích, kẻ thì đánh bạc mua vui, có người chỉ chăm vườn ruộng, cốt nuôi được nhà; có người chỉ mến vợ con, lấy mình làm trọng; cũng có kẻ chỉ lo làm giàu làm có, việc quân quốc chẳng thèm đoái hoài, cũng có người chỉ ham về săn-bắn mà quên việc binh, hoặc là đam mùi rượu ngọt, hoặc là mê tiếng hát hay.
Một khi giặc Mông đến nơi, thì cựa con gà nòi không thể đâm thủng áo-giáp của giặc; thuật ở bàn bạc không thể đem làm mưu mẹo ở trong quân; vườn ruộng tuy giàu, tấm thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vợ con tuy sẳn, trong đám ba quân khó dùng, của cải tuy nhiều, không thể mua được đầu giặc; chó săn tuy khỏe, không thể đuổi được quân thù, rượu ngon không đủ để cho giặc phải mê; hát hay không đủ làm cho giặc phải điếc; lúc đó thầy trò ta sẽ cùng bị trói, đáng đau đớn biết chừng nào! Nếu thế, chẳng những là thái-ấp của ta không còn, mà bổng-lộc của các ngươi cũng bị kẻ khác chiếm mất; chẳng những là gia- quyến của ta phải đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc của tổ tông ta sẽ bị dày xéo, mà đến mồ mả của cha mẹ ngươi cũng sẽ bị kẻ khác đào lên, chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, và trăm kiếp khác tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu vẫn còn, mà gia thanh của các ngươi cũng chẵng khỏi mang tiếng là nhà bại tướng. Đã đến khi đó các ngươi muốn chơi bời cho thỏa, được chăng?
Nay ta bảo rõ các ngươi: cái chuyện dấm lửa đống củi phải lo, mà câu sợ canh thổi rau nên nhớ. Các ngươi hãy nên huấn luyện quân-sĩ, rèn-tập cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ, bêu đầu Tất-Liệt dưới cửa khuyết, ướp thịt Thoát-Hoan trong trại rơm. Như thế chẳng những là thái-ấp của ta mãi mãi là của gia truyền, mà bổng-lộc các ngươi cũng được suốt đời hưởng thụ; chẳng những gia- quyến của ta được yên giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng được sum họp đến già; chẳng những là tông-miếu ta sẽ được muôn đời tế lễ, mà tổ tông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những thân ta kiếp này đắc chí, mà đến các người dưới trăm đời nữa tiếng thơm vẫn lưu truyền; chẳng những tên tuổi ta không bị mai một, mà đến tên họ các người cũng để tiêng thơm trong sử xanh. Khi ấy các ngươi không muốn vui chơi, được chăng?
Nay ta lựa chọn binh pháp các nhà, làm một quyển sách, đặt tên là sách "Binh-thư yếu-lược". Nếu các ngươi biết chuyên-tập sách ấy, nghe lời dạy-bảo của ta, ấy là duyên thầy trò kiếp xưa; Nếu các ngươi bỏ bê sách ấy, trái lời dạy-bảo của ta, ấy là mối cựu thù kiếp xưa, Sao vậy? Bởi vì như vậy tức là kẻ thù không đội chung trời, thế mà các ngươi không nghĩ tới, điềm nhiên không lo đến sự rửa thẹn, không tinh; đến việc trừ hung, không nhớ đến chuyện dạy-tập quân-sĩ. Thế là giở giáo hàng giặc, nắm tay chống giặc. Rồi đây, sau khi dẹp yên quân giặc, các ngươi sẽ phải thẹn muôn đời, còn mặt-mũi nào đứng giữa khoảng trời đất che chở? Ta muốn các ngươi biết rõ bụng ta, nhân viết mấy lời đó làm hịch.

22 May 2011

Ngao Sò Ốc Hến

Hôm nay coi tin tức thấy báo chí bàn tán vụ phim Việt Nam thời hiện đại. Tr không coi phim Việt Nam lâu lắm rồi, cái thời ở Việt Nam thì cũng chỉ coi những phim miền Bắc sản xuất thôi chứ phim của Sài Gòn toàn là bá láp. Có một vài cái coi được như Mùi ngò gai thì lại đậm mùi kim chi. Nghĩ lại những năm 1990 cũng có một loạt phim mì ăn liền với dàn diễn viên Lý Hùng, Diễm Hương, Lý Hương, Lê Tuấn Anh, Lê Công Tuấn Anh, Công Hậu, Y Phụng v.v… nổi lên một thời rồi tàn lụi. Những diễn viên đó cũng chìm luôn, nhưng cũng có một vài phim coi được như Phạm Công Cúc Hoa, Vị đắng tình yêu chứ. Còn những phim về sau kiếm hoa hậu để quảng cáo, cho vô ẹo ẹo chứ không biết diễn gì hết. Người lớn tuổi không thèm coi, người trung niên thì tắc lưỡi lắc đầu, dân mới lớn thì cũng kéo tới rạp chui vô để làm gì đó chứ cũng chẳng quan tâm là phim gì. Mấy công ty có tiền thì đem dán vô mặt đạo diễn để đạo diễn phải cho sản phẩm của họ lên màn hình một cách thô thiển, còn tệ hơn quảng cáo thương mại. Ngoài loại phim bá láp ra còn một loại phim hài. Phim hài dĩ nhiên chỉ có một mục đích là giải trí, chọc cười thiên hạ. Thôi thì hễ người coi chịu cười là coi như đạt yêu cầu đi.

Thế nhưng ngày xưa người ta cười ý nhị hơn nhiều. Những năm thập niên 80, khi đó phim còn ít lắm, phim Việt thì Cánh đồng hoang, Mùa gió chướng hay Biệt động Sài Gòn, phim Liên Xô có Trên từng cây số và vài phim thời Thế chiến thứ II mà Tr cũng không nhớ nổi. Trong khi đó lúc này cải lương vẫn còn thịnh. Ngoài những tuồng cổ như Tô Hiến Thành xử án, Tiếng trống Mê Linh (cuối những năm 70) vẫn có những tuồng xã hội và những tuồng mới được viết về sau như Tiếng hò sông Hậu hay gì gì nữa đó (Tr ít coi cải lương nên cũng không biết nhiều).

Trong một tuồng cải lương thì có kép bi, kép hài, kép độc, đào lẳng, đào thương v.v… Quan trọng nhất là tuồng nào cũng có một vài người làm hề để giải tỏa không khí căng thẳng của tuồng. Ít có tuồng nào được gọi là cải lương hài lắm. Vậy mà một tuồng không chính thống kiểu này lại đi vào lòng quần chúng một cách lạ kỳ. Tr đang nhắc tới tuồng cải lương Ngao Sò Ốc Hến. Cái version của tuồng này là Thanh Kim Huệ vai Thị Hến, Thanh Điền là Quan Huyện, Nam Hùng vai thầy Đề, Trường Xuân vai bác Ngao, Giang Châu vai Trùm Sò. Nghe đâu có nhiều người đóng vai Thị Hến (Tài Linh với một người nào cũng rất nổi tiếng) nhưng Thị Hến của Thanh Kim Huệ vẫn nổi bật hơn cả.

Nói tuồng này dễ đi vào lòng người chắc vì nó gần gũi với dân chúng hơn. Cái thời những năm 80 người trí thức hiểu những tuồng cổ (Hồ Quảng) nhiều nhưng thời cả nước đói thì ai hơi đâu mơ mộng vua chúa, quan hiền, quan nịnh nữa. Ngao Sò Ốc Hến thì gần hơn, lời dùng bên trong cũng không có nhiều từ Hán Việt, ai nghe cũng hiểu hết. Nhưng hay hơn hết là cách những nghệ sĩ này đưa vào phong cách diễn của mình làm cho người coi/ nghe (dân ở quê chưa có ti-vi chỉ nghe đài mà thôi) nhập tâm hồi nào không biết. Riết rồi không biết tự bao giờ những từ trong tuồng này đi vào xã hội và được dùng một cách rộng rãi.

Ví dụ tánh hà tiện của nhân vật Trùm Sò do Giang Châu hóa thân biến chữ “trùm” từ một danh từ chỉ chức vụ thành một tính từ tương đương với “hà tiện”. Nói “thằng đó trùm lắm” thì không cần phải giải thích thêm nữa. Một thí dụ khác là cụm từ “làm ăn với bác Ngao” mang hàm ý “đi ăn trộm”, hay “đi khám điền thổ” của mấy ông nghĩa là đi thăm vợ bé. Để chỉ một vụ làm ăn lỗ lã người ta nói “đi chuyến này mình cúng rằm tháng bảy”. Để diễn tả một vụ báo động giả thì dùng từ “lên giả”. Hay diễn nôm câu “nhân tại giang hồ, thân bất do kỷ” là “tại hoàn cảnh nó đẩy đưa”.

Hàng loạt những thành ngữ được hâm nóng lại trong tuồng như là “lương tâm nhà nghề” (bác Ngao làm thầy bói cũng có lương tâm nhà nghề), “kẻ lo hối lộ với người nhận hối lộ đều có tội như nhau”, “cơm lạnh canh nguội” (lời bà Huyện nhiếc ông Huyện), “nửa đường gãy gánh” chỉ góa phụ, “búp măng ngòi viết” để tả bàn tay đẹp và đối nghịch là “dùi đục”, “bút sa gà chết”, “sư tử Hà Đông”, “kỳ đà cản mũi”, “thờ bà” chỉ người sợ vợ.

Bác Ngao của kép độc Trường Xuân là vai phụ nhưng để lại nhiều câu hay lắm, ví dụ như “Ốc ơi, trở lại cứu bồ”, “ngồi lâu tao cảm thấy … bơ vơ”, “mười ngón tay của người mù để rờ rẫm sờ sẫm”, “đồ mới may chưa mặc, mới mặc, chưa giặt”, hoặc “còn phải hỏi” để trả lời cho những câu hỏi đã có những câu trả lời rõ ràng, hay kiểu hăm dọa “tao về tao méc quan tao, rồi đây bây sẽ biết tay tao”.

Nhân vật Trùm Sò có câu “mấy người nghèo không có quyền nói, để mấy người giàu người ta nói”, “đi ăn giỗ cả ngày nay có mệt mỏi gì đâu”, “vợ chồng tui biết phải quấy với thầy”.

Hàm râu mọc ngược của quan Huyện trở thành biểu tượng của một nhân vật dê xồm sợ vợ. Quan Huyện có mấy câu “cứ bình tĩnh mà khai, có quan anh che chở”, hay nổi tiếng hơn “tới chỗ quan là đồ của quan”, “quan đã thề với lòng rằng không bao giờ quan để rơi rớt”, “tui âm thầm tui sợ bà” hay lời đề nghị “bà về nhà đóng cửa dạy tui”. Cái cụm từ “cái bà này lạ… chưa?” cũng tồn tại nhiều năm trời.

Cặp thầy Đề quan Huyện có cách vòi tiền y như quan thời nay (không nói rõ thêm làm gì), ví dụ như “đánh cho vỏ Sò nó mềm ra”, “quan mà ra tay thì phải biết”, “tội khóc thấy mà ghét” hay “tội làm hao giấy mực”. Thầy Đề Nam Hùng cũng biết cách nhắc “được việc rồi chỉ nhớ quan mà quên Đề phải hông?”

Ngay cả vụ lên đồng cũng để lại những câu khó quên “ông Trùm xin bớt chút đỉnh được không?” hay “người khuất mặt khuất mày có nhiêu noi nhiêu chớ không có nói thách” (của thầy Bảy), “đàn ông con trai gì đẹp đẽ vậy mà không biết gieo tình cảm với phụ nữ” (của cô Bóng Năm).

Tuồng cải lương này gắn liền với đời sống tinh thần của người dân Nam bộ. Ngày nay sau hơn 20 năm, cải lương không còn thịnh, muốn một tuồng phổ thông như vậy cũng không kiếm ra được nữa rồi.

21 May 2011

Hình thiên nhiên - Sưu tầm (4)



Giống một tấm thảm bằng bông màu trắng thêu hình cọp



Thi kéo co



Lần đầu biết tuyết là gì






Thấy miếng ngon trước mặt mà không thấy nguy hiểm kề bên

07 March 2011

Hình thiên nhiên - Sưu tầm (3)

Bạch mã mao như tuyết

Đi lạc

Hụt!!! Quá quê!

Tập thể dục đi! Động tác tay! Một!

Anh hứa đưa em về nơi chân trời tím,
Gom hết mây hai đứa xây lâu đài yêu
(lời bài Chân trời tím của Trần Thiện Thanh)

Cá mập đi massage cá

Đang thi Idol, ban giám khảo đã chuẩn bị giải thưởng

Chân dung rồng Komodo

Chân dung cá mập ma

Ốc mượn hồn mượn cái vỏ ốc, còn hải quỳ thì đang quá giang đi chơi

04 March 2011

Xem chỉ tay: Bàn tay chữ nhất


Một vài bạn bè thân biết hai bàn tay của Tr đều có kiểu chữ nhất, nghĩa là tâm đạo và trí đạo nhập thành một đường. Lần đầu tiên Tr để ý tới điều này là lúc còn nhỏ lắm, khoảng 4, 5 tuổi gì đó. Lúc đó cô Ba nhìn rồi nói là giống tay của cô. Cô Ba học hành giỏi, khéo léo, có điều số cô cực lắm nhưng Tr thì thấy mình sướng thấy mồ, do vậy chắc người nữ mà có tay như vậy thì cực, còn nam thì sướng.

Về sau này hễ gặp cuốn sách coi chỉ tay, coi tướng nào Tr cũng tò mò kiếm thử về chi tiết này. Tiếc là chưa có lời giải thích nào vừa ý hết. Không phải là chỉ kiếm cái tốt để coi mà cái nào xấu thì không đọc, nhưng những lời như “thông minh, học giỏi” thì chung chung quá. Có người thì nói những người có tay này “kiêu ngạo ngầm” nghe cũng có lý. Về sau có một người bạn Thượng Hải nói là bàn tay này là Phật thủ ấn, đánh ai sẽ để dấu lại ngay. Nghe mà tức cười, ai đánh mà không để dấu lại chứ. Cũng có người nói là “bàn tay này hoặc làm vua hoặc làm giặc”, nghe cũng tức cười vì chuyện làm vua hay làm giặc làm sao mà một bàn tay có thể làm được?

Cho tới gần đây mới nghĩ ra, mình biết tiếng Anh làm gì mà không thử coi những nghiên cứu của phương Tây về chủ đề này. Sau đây là những gì gom góp được, theo ý Tr là đúng hơn những lời chung chung nói trên.

Trước hết xin nói rõ tiếng Anh gọi cái này là “Simian Line” (Simian: thuộc về khỉ) hoặc “Simian Crease”, “Simian Fold”,  “Transverse Plamar Crease”. Tìm trên Internet chữ Simian Line thôi thì đã có nhiều tài liệu lắm rồi. Ai muốn tham khảo thêm thì kiếm trong thư viện cũng có nhiều sách vở lắm.

Phần đầu Tr chỉ nói về những người có một bàn tay dạng chữ nhất.

Phương Tây cũng chia bàn tay ra Trí đạo, Tâm đạo và Sinh đạo. Bàn tay chữ nhất được định nghĩa là Trí đạo và Tâm đạo nhập làm một đường và chạy ngang bàn tay. Do hai đường này nhập làm một, những người có bàn tay này không phân biệt rõ ràng giữa cái mình muốn và cái mình nghĩ. Kết quả là bản năng của họ được nhân lên gấp bội nhưng họ cũng có khuynh hướng nhảy vào mọi việc một cách hấp tấp, không suy tính kỹ.

Những người này có khả năng tập trung rất cao vì cả tâm lẫn trí đều đặt vào một chỗ. Nhưng cũng vì vậy mà đôi khi họ bỏ qua những ý kiến bên ngoài và trở nên bảo thủ.

Vì tâm và trí là một nên họ đem hết khả năng suy nghĩ của mình biến ham muốn của mình thành sự thật. Do vậy họ thường thành công hơn người khác. Với khả năng tập trung như vậy họ có khả năng phát minh, sáng tạo hơn người thường.

Tuy nhiên vì ham muốn không phải luôn luôn đúng và vì họ đem hết sức mình đặt vào công việc nên cho dù họ đang đi sai đường họ cũng bảo thủ không chấp nhận cho tới lúc quá trễ. Do đó có thể nói họ cũng chịu nhiều xui rủi hơn người thường.

Nói tóm lại bàn tay chữ nhất là con dao hai lưỡi. Những tính tốt tăng lên thì những tính xấu cũng tăng theo, vừa có thể thành người tốt cho xã hội, vừa có thể gây họa cho xã hội. Họ là những người gì là sẽ làm tới cũng, dù là tốt hay xấu. Họ có quyết đoán và tràn đầy ý chí quyết thắng, nhưng cũng có đầy những ý nghĩ lung tung và cảm xúc khó hiểu. Họ thường thấy khó khăn trong việc phân biệt rạch ròi suy nghĩ và cảm giác. Họ không biết là nghĩ cái họ cảm thấy hay cảm thấy cái họ nghĩ. Nếu ai hỏi những người này “Bạn cảm thấy thế nào?” thì họ trả lời “Tôi nghĩ là tôi cảm thấy thoải mái”.

Họ thường bị hiểu lầm trong giao tiếp vì cách nói của họ có vẻ lấn át người khác. Ví dụ như trong một cuộc họp họ nói: “Tôi thích đi nghỉ mát trên núi” thì những người xung quanh lại hiểu là: “Chúng ta sẽ đi nghỉ mát trên núi và không có gì để bàn cãi nữa”.

Có người rất giỏi nghiên cứu và biết về một chủ đề nào đó hay hơn tất cả những người khác, có người bỏ hàng tháng trời làm một mô hình tòa nhà, chiến thuyền v.v… Nhưng như nói ở trên khả năng giao tế của những người này có giới hạn và họ thường thành công về khoa học kỹ thuật hơn là nhờ vào quan hệ người với người. Trong kinh doanh những người có bàn tay chữ nhất có tham vọng thống trị thị trường và không nương tay với đối thủ.

Những người này cũng có khả năng thay đổi chủ đích dễ dàng vì suy nghĩ và cảm hứng của họ là một. Khi thấy thích cái này họ đặt hết sức vào đó nhưng khi họ không còn thích nữa thì họ sẵn lòng chuyển qua cái khác ngay. Họ có thể quay ngoắt 180 độ trong việc làm, cuộc sống, chủ thuyết, niềm tin v.v…

Phần sau là về những người có cả hai bàn tay chữ nhất. Đơn giản là những gì nói trên đều đúng nhưng hiệu quả tăng gấp đôi. Họ có thường chủ quan và ngoan cố. Họ không dễ dàng chịu theo những quy tắc, luật lệ của xã hội mà chỉ theo luật riêng của mình. Trong những trường hợp đặc biệt bị cảm xúc lôi cuốn thì họ sẵn sàng dùng cả luật rừng. Nghiên cứu bàn tay của những tù nhân cho thấy những người có bàn tay chữ nhất thường gây tội lúc bốc đồng hơn là những tội có tính toán. Chứng tỏ hành động của họ chịu ảnh hưởng lớn của cảm xúc.

Một trong những người có hai bàn tay chữ nhất khá nổi tiếng hiện nay là cựu thủ tướng Anh Tony Blair.
Một điểm thú vị về một nghiên cứu bàn tay chữ nhất của phương Tây là những người bị bịnh Down có tỷ lệ sở hữu bàn tay chữ nhất cao hơn người thường. Có khoảng 2-6% dân số có một bàn tay chữ nhất. Nhưng những người có bịnh Down thì tỉ lệ này lên tới 65-75%. Tỉ lệ này cũng cao hơn 2-6% trong cộng đồng những người mang bịnh nhiễm sắc thể khác. Dĩ nhiên điều này không có nghĩa là những người có bàn tay chữ nhất là đang mang khuyết tật về nhiễm sắc thể.

Đó là những gì Tr lượm lặt được trên Internet. Lúc đầu tính ghi ra rồi cái này thấy đúng thì chua vào một chữ nhưng sau thấy chỗ nào cũng ghi “đúng” hết thì kỳ quá nên bỏ đi. Nhưng quả thật Tr thấy những lời nhận xét có tính tiêu cực đều đúng hết. Còn nói nhập nhằng giữa tâm và trí cũng thấy đúng. Thí dụ như Tr thích một bài thơ không phải vì bản thân bài thơ mà vì người làm ra nó hoặc người thích nó thôi.

Ít chữ dòng dông dài để quý vị đọc chơi, bàn tay con người chẳng thể quyết định được gì cho chính con người đó. Trong xã hội có biết bao điều ảnh hưởng tới mình, sự thành hay bại tùy thuộc nhiều thứ, một vài lằn chỉ tay có nghĩa gì đâu.

23 February 2011

Người Việt trả lời điện thoại như thế nào?

Hôm nọ gọi điện thoại lại chùa thì nghe người trả lời điện thoại nói: "A di đà Phật", tự nhiên Tr tò mò không biết các nơi trên thế giới nói như thế nào. Wikipedia trong mục Greeting có đưa ra một số như sau:

- Argentina: Hola
- Trung Quốc: Wei
- Pháp: A lô
- Phần Lan: Haloo
- Ý: Pronto
- Israel: Shalom
- Nhật: Moshi moshi
- Bồ Đào Nha: Esta
- Romani: Alo
- Tây Ban Nha: Diga/ Digame
- Nga: Slushayu vas

Nhìn chung có nhiều nơi nói A lô hoặc gì đó tương tự. Thường bắt đầu bằng chữ A. Nghĩ lại ngôn ngữ thế giới không đa dạng bằng tiếng Việt, chỉ có thường dân là nói "A lô" như thiên hạ thôi chứ các nơi có cách trả lời điện thoại khác nhau. Kể sơ sơ thôi nhé:

- Gọi lại chùa, người nghe điện thoại nói: A di đà Phật
- Gọi lại nhà thờ: A men
- Nhà tang lễ: A tỳ
- Quân đội: AK
- Tiệm thuốc bắc: A dao
- Tiệm thuốc tây: A móc (xi-lin)
- Công ty vi tính: A còng (@)
- Công ty điện lực: AC/ DC
- Nhà của Tào Tháo: A Man
- Viện Triết học Mác Lênin: AQ
...

01 February 2011

Một ngày Dallas lạnh lẽo


Hôm qua đi làm nghe nói hôm nay sẽ lạnh lắm nhưng Tr cũng có chuẩn bị tinh thần rồi. Sáng nay thức dậy trong phòng vẫn bình thường vì cửa đóng kín lại có máy điều hòa. Nhìn ra ngoài cửa sổ thì thấy toàn một màu trắng toát. Nói tới đây phải nhắc lại ba lần ở Dallas mới được. Lần đầu tới đây là lúc giữa tháng 8 (cuối hè), trời nóng kinh khủng, có lần ra khỏi nhà lúc 9, 10 giờ tối mà trời còn nóng hừng hực như một cái lò. Tuy nhiên cây cối vẫn xanh, cỏ vẫn xanh mặc dù nghe nói thiếu nước nhưng dân chúng vẫn được tưới cỏ như thường. 



Lần thứ hai quay lại đây là hôm thứ 7 (29/01/2011). Trời mát mẻ, dễ chịu, khoảng 20 độ nhưng cỏ không còn xanh nữa mà cháy vàng hết, cây cối lớn thì không còn cái lá nào, từ trên máy bay nhìn xuống toàn một màu vàng chán ngắt, giống y như ngoại ô Melbourne. 

Từ cửa sổ văn phòng nhìn ra một màu cỏ cháy


Lần thứ ba thấy Dallas thay đổi là hôm nay đây, bây giờ không còn màu xanh của lá hay màu vàng của cỏ như trước mà thật sự là màu trắng khắp nơi. Tuyết rơi lất phất, bông tuyết nhỏ li ti thôi nhưng đủ đóng một lớp dày lên cửa sổ xe, đường trơn trợt, xe rất ít. Chính phủ có cho xe đi dọn đường nhưng chủ yếu ở đường lớn mà thôi. Bãi đậu xe của công ty thường ngày chật như nêm còn hôm nay lát đát vài chiếc. Trường học đóng cửa, nhiều công ty cho nhân viên làm việc từ nhà, lúc này là giữa trưa mà tuyết vẫn rơi. Một năm Dallas chỉ có tuyết rơi vài ngày nên nhiều người không biết lái xe trong thời tiết lạnh như thế nào nữa. Tránh ra đường trong những ngày này thì tốt hơn. 

Hôm nay thì tuyết phủ trắng



Lúc lội bộ mới thấy khó đi tới mức nào. Tối qua trời mưa nên đường ướt sau đó lạnh xuống nên nước đóng thành băng. Tuyết thì xốp nhưng băng như vầy thì chắc lắm mà trơn nữa. Xe chạy trên đường như bò, thỉnh thoảng ngừng không kịp thì bị trượt qua trượt lại, nhìn ghê lắm. Không thấy xe nào có đeo bộ đinh hết, chắc ở Texas cũng không có bán mấy thứ này.
Vô được văn phòng thì gặp sếp nói liền: "Ngày mai mà như vầy thì ở nhà làm đi, đừng cố gắng đi rồi bị kẹt ngoài đường". Đúng thiệt, không có ai trong văn phòng hết.

Lúc này ở Việt Nam chắc là vui lắm rồi.